Thống đốc Ngân hàng nhà nước thông tin con số thực tế về nợ xấu

0
611

Giải trình trước Quốc hội sáng nay 7/6, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Lê Minh Hưng cho biết, tháng 9/2012 khi báo cáo Quốc hội thì tỷ lệ nợ xấu ước tính 17,21% tổng dự nợ và cho vay của nền kinh tế. Nếu đánh giá toàn diện thực chất thì con số nợ xấu tại thời điểm đó có thể cao hơn.

Cần minh bạch về số nợ xấu

Theo các đại biểu, để có thể xử lý được nợ xấu, cần phải chỉ ra các nguyên nhân gây ra nợ xấu, từ đó mới có thể đưa ra các biện pháp để có thể xử lý có hiệu quả. Có đại biểu cho rằng, con số nợ thực tế sẽ còn hơn con số mà báo cáo trước đó của người đứng đầu Ngân hàng nhà nước đã đưa ra.

Đại biểu Đinh Duy Vượt (Gia Lai) băn khoăn: “Tỷ lệ nợ xấu tiềm ẩn chuyển sang nợ xấu báo cáo trước Quốc hội đã chính xác chưa, đã thực chất chưa, hay còn giấu, còn vướng ở đâu nữa không?”.

Theo đại biểu này, cần phải minh bạch về số nợ xấu, không để xảy ra trường hợp khi Nghị quyết về nợ xấu đã thông qua có phát sinh lớn, đặc biệt là ngân hàng có vốn nhà nước lớn cho vay vốn phạm vi rộng thì nợ xấu chỉ cần tăng 1% nhưng giá trị tuyệt đối có thể là hàng chục phần trăm của ngân hàng cổ phần khác.

“Phải chỉ rõ tổ chức tín dụng nào có tỷ lệ nợ xấu cao nhất để có giải pháp phù hợp, đồng thời làm rõ trách nhiệm chủ quan trong từng giai đoạn của cá nhân lãnh đạo. Nếu không làm rõ trách nhiệm trong từng giai đoạn thì vô hình chung đã tạo điều kiện để phủi trách nhiệm, đùn đẩy trách nhiệm thậm chí bỏ lọt tội phạm”, đại biểu Đinh Duy Vượt đề xuất.

Giải trình vấn đề này trước Quốc hội, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Lê Minh Hưng cho biết, theo chỉ đạo của Chính phủ, vừa qua Ngân hàng nhà nước trên cơ sở đánh giá tổng kết thực thi đề án Cơ cấu lại các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015 cũng như đề án xử lý nợ xấu theo Quyết định 843 của Thủ tướng Chính phủ đã tổng kết kết quả đạt được cũng như nguyên nhân của tồn tại. Đề án cũng báo cáo cơ quan chức năng có thẩm quyền toàn bộ thực trạng nợ xấu và nguyên nhân.

Tháng  9/2012 khi báo cáo Quốc hội thì tỷ lệ nợ xấu ước tính 17,21% tổng dự nợ và cho vay của nền kinh tế. Nếu đánh giá toàn diện thực chất thì con số nợ xấu tại thời điểm đó có thể cao hơn.

Con số tính đến 31/12/2016, nợ xấu nội bảng của các tổ chức tín dụng trên 150.000 tỷ đồng, chiếm 2,52% tổng dư nợ, tổng nợ xấu VAMC đã mua và chưa xử lý được trên 195.000 tỷ đồng chiếm 3.29% tổng dư nợ.

Tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ xấu đã bán cho VAMC chưa xử lý chiếm 5,8% trên tổng dư nợ cho vay, đầu tư đối với nền kinh tế; nếu tính cả nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu thì tỷ lệ này sẽ là 10,08% trên tổng dư nợ cho vay, đầu tư đối với nền kinh tế.

Theo phân loại hiện nay trong tổng nợ xấu nội bảng VAMC thì nợ của doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm gần 64%; nợ của doanh nghiệp nhà nước chiếm 6.3%; nợ của hộ kinh doanh, cá nhân 21%; nợ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khoảng 1.8%.

Hàng trăm cán bộ ngân hàng đã bị khởi tố

Chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến nợ xấu, người đứng đầu Ngân hàng nhà nước cho biết, có nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nguyên nhân khách quan: Thứ nhất, thời gian qua, sự bất ổn của chính trị và kinh tế trên thế giới tác động đến và gây nhiều rủi ro tiềm ẩn với nền kinh tế trong nước.

Trong khi đó, kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, chất lượng kinh tế tăng trưởng chưa cao, nợ công tăng nhanh, bất động sản thời gian dài trầm lắng. Doanh nghiệp Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào vốn vay ngân hàng, trong khi hiệu quả sản xuất còn thấp nên khi có biến động từ bên trong đến bên ngoài đều tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động, do đó gián tiếp, trực tiếp gây ra nợ xấu.

Đại biểu Đinh Duy Vượt phát biểu ý kiến. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

Thứ 2, quy mô hoạt động của doanh nghiệp nhỏ, phụ thuộc thị trường thế giới nên nhiều khó khăn, không có khả năng trả nợ. Theo thống kê từ 2011 – 2015 thì bình  quân mỗi năm có trên 63.000 doanh nghiệp giải thể và phá sản. Các yếu tố này cũng làm gia tăng nợ xấu của nền kinh tế và ngân hàng.

Thứ 3, chính sách kinh tế, đặc biệt kinh tế vĩ mô thiếu tính ổn định ảnh hưởng đến khả năng  sản xuất kinh doanh và trả nợ của ngân hàng.

Thứ 4, hệ thống cơ chế chính sách xử lý tài sản còn bất cập nên hạn chế xử lý tài sản cũng như nợ của tổ chức tín dụng. Thứ 5, nhiều khách hàng vay còn chây ỳ trả nợ, trốn tránh.

Thứ 6, thị trường vốn còn chưa phát triển tương xứng nên hệ thống Ngân hàng vẫn là tài trợ chủ yếu cho đầu tư và phát triển. Vì vậy rủi ro chính của hệ thống tài chính là rủi ro của hệ thống ngân  hàng. Đồng thời mô hình tăng trưởng phụ thuộc vào vốn vay nên chủ yếu nợ xấu của hệ thống ngân hàng.

Bên cạnh đó, bản thân các tổ chức tín dụng hiện nay quy trình chưa chặt chẽ nên tạo kẽ hở để cán bộ ngân hàng, khách hàng lợi dụng. Tại một số tổ chức tín dụng,  năng lực quản lý còn hạn chế, kiểm tra nội bộ chưa tốt, chuẩn mực đạo đức cán bộ ngân hàng chưa được quan tâm dẫn đến rủi ro cho vay.

Đạo đức của một bộ phận cán bộ ngân hàng thoái hóa biến chất lợi dụng quyền hạn chức vụ câu kết với khách hàng cố ý làm trái quy định, đe dọa hoạt động và tính lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Các hành vi vi phạm pháp luật này thời gian qua đã và đang được xử lý nghiêm.

Đề án cơ cấu lại tổ chức tín dụng 5 năm qua dù đã đạt kết quả bước đầu nhưng chưa giải quyết được yếu kém cơ bản  của hệ thống tín dụng cũng như xử lý nợ xấu triệt để…

Về xử lý nợ xấu, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Lê Minh Hưng cho biết, thời gian qua, qua thanh tra giám sát đã tiến hành xử lý nhiều vụ việc vi phạm. Từ 2011 – 2016, theo thống kê của Bộ Công an, phát hiện khởi tố điều tra 95 vụ án kinh tế xảy ra trong lĩnh vực và khởi tố bị can gần 200 cán bộ ngân hàng. Tính riêng một số vụ án lớn thì cơ quan tố tụng truy tố xét xử 128 cán bộ ngân hàng trong đó có nhiều đối tượng giữ chức vụ cao ở các tổ chức tín dụng với nhiều mức án.

Xuân Phong-Thu Trang/Báo Tin Tức

TRẢ LỜI

Please enter your comment!
Please enter your name here